Thursday, May 24, 2007

09. Ưa ăn đầu cá

.

.
Hoa văn:
.
愛吃魚頭
.
我有一位長輩,以愛吃魚頭聞名,每逢她家裏吃魚,子女們總是把魚頭先夾到她的碟子裏;朋友們聚餐,大家也必然將魚頭讓給她,只是在外面她比較客氣,常婉拒大家的好意。不久前,她去世了,終於,幾位老朋友到醫院探望她,有位太太還特別燒了個魚頭帶去,那時她已經無法下嚥,卻非常艱苦地道出一個被隱瞞了十幾年的秘密:
.
「謝謝你們這麼好心,為我燒了魚頭,但是,到今天我也不必瞞你們了,魚頭雖然好吃,我也吃了半輩子,卻從來沒有真正得愛吃過,只是家裏環境不好,丈夫孩子都愛吃魚肉,我吃,他們就少了;不吃,他們又過意不去,只好裝做愛吃魚頭。我這一輩子,指盼望能吃魚身上的肉,哪曾真愛吃魚頭阿!」
.
如今,每當我聽說有人愛吃魚頭,總會多看他幾眼,心想:他是「愛吃魚頭」呢?仰或「吃魚頭為了愛」?(劉墉)
.
Việt dịch:
.
Ưa ăn đầu cá
.
Tôi có một người bà con lớn tuổi ưa ăn đầu cá đến mức độ mà mọi người đều biết tiếng. Mỗi khi trong nhà dọn lên món cá thì các con trai, con gái đều gắp cái đầu cá đặt vào bát của bà trước tiên. Bạn bè họp mặt ăn uống, mọi người đương nhiên đều nhường cái đầu cá cho bà, lúc đó bà chỉ tỏ ra hơi khách khứa hơn ngày thường một chút và thường khẻ lời từ chối nhã ý của mọi người.
.
Vừa mới đây, khi bà sắp mãn phần, một vài người thân tìm đến bệnh viên thăm lần cuối. Có một bác gái còn nướng một đầu cá thơm ngon mang vào cho bà. Lúc ấy bà đã không còn ăn uống gì được nữa rồi nhưng cũng cố gắng hết sức nói ra một điều bí mật giấu kín đã mấy mươi năm qua:
‘Cảm ơn mọi người đã vì tôi mà nướng đầu cá đem vào, nhưng đến ngày hôm nay thì tôi không còn phải dấu diếm điều gì nữa: đầu cá tuy là ăn rất ngon, nhưng tôi đã ăn đầu cá nữa đời người rồi, thật ra hồi nào tới giờ tôi chưa từng ưa ăn đầu cá; chỉ vì hoàn cảnh gia đình ngày ấy nghèo quá, chồng con đều ưa ăn phần thịt, tôi mà ưng ăn nữa thì mọi người đều thiếu, tôi không ăn thì cả nhà đều cảm thấy ái ngại, chỉ còn cách tốt nhất là giả vờ ưa ăn đầu cá. Tôi suốt đời mong ước được ăn một miếng thịt trên lưng cá chớ có bao giờ mà tôi thật sự ưa ăn đầu cá đâu!’
.
Ngày nay, mỗi lần tôi nghe nói có người ưa ăn đầu cá thì tôi thường xem lại, ngẩm nghĩ: Người ấy “yêu thích ăn đầu cá” chăng? hay lại “ăn đầu cá vì thương yêu.”
.
Phụ họa:
.
Lão bà tuổi đã bảy mươi
Nhiều năm chung sống mọi người mến thương
Bà thích đầu cá lạ thường
Thịt lưng, lườn cá đều nhường người thân
Giờ lâm bệnh sắp mãn phần
Thương bà, nghĩ đến bà cần món chi
Nhớ món đầu cá mọi khi
Nướng thơm đầu cá mang đi tặng bà
Bà cười nhỏ nhẹ nói ra:
‘Thịt lưng, lườn cá, cả nhà thích ăn
Ngày xưa đời sống khó khăn
Vờ thích đầu cá âm thầm nhường con
Trong lòng vẫn thích ăn ngon
Cam lòng ăn dở, vuông tròn đến nay
Bốn mươi năm đã đủ dài
Còn gì phải dấu, chuyện ngày tháng xưa’
Giật mình, con cháu định thưa
Nụ cười khép lại, bà vừa ra đi.
.
Tiểu Viên

Wednesday, May 23, 2007

08. Từ nghịch cảnh

Từ nghịch cảnh
.
...
.
Hoa văn: 從逆境中走過來
.
大多數人都是在平穩、平靜、安定的環境中成長,不容易養成堅強的意志力;相反地,在不斷遇到的種種逆境、挫折挑戰中成長的人,較能夠警得起風浪。 我就是在逆境中走過來的人。
.
大家現在看到的、都是我風光的一面,沒見到我在美國紐約做流浪漢的時候;沒見到我被人落井下石,當成落水狗的時候。 我這一生,可說是在挫折中走過來,是被重重的打擊、阻擾之中走出來的,但是當初那些困擾我的人,其實都是幫助我的人.
.
因此,我很感恩我的生命歷程中,能夠有這麼多幫助我的人。
.
(聖嚴法師 )
.
Việt dịch: Đến đây từ nghịch cảnh
.
Từ trong môi trường bình an và ổn định mà lớn lên thì phần nhiều người ta khó có thể nuôi dưỡng được một ý chí mạnh mẽ, kiên cường; ngược lại, từ trong nghịch cảnh mà lớn lên, cuộc sống gặp nhiều thử thách đắng cay, thì phần nhiều người ta thường mạnh mẽ hơn, đủ sức vượt qua sóng to gió lớn của biển đời.
.
Tôi là người xuất thân từ nghịch cảnh. Hiện nay, người ta thường chỉ biết tôi với những thành tựu, những phong quang chớ không biết tôi đã từng là một người lang thang, vô gia cư khi ở Nữu Ước Hoa Kỳ, không biết tôi đã từng thất bại, như người bị té ngã xuống giếng và có người lại thừa dịp đó mà ném thêm đá...
.
Có thể nói rằng tôi là người từ khổ nạn mà đến đây; là người sống trong cảnh liên tục bị quấy nhiễu và tấn công từ mọi phía, thoát ra được mà trở về đây. Tuy nhiên, những người lúc trước đã quấy nhiễu thật ra đều là những người giúp cho tôi.
.
Do vậy, trong những diễn biến của cuộc đời có rất nhiều người như vậy mà giúp đỡ cho tôi. Tôi xin được cảm ơn.
.
Phụ họa:
.
Sống đời trong ấm ngoài êm
Đủ đầy ổn định lớn lên thành người
Đa phần ý chí thường thôi
Gian nan thử thách giửa đời khó qua
Ngược lại giửa chốn phong ba
Nhân tình thế thái, chánh tà phân tranh
Phát huy tự thể tinh anh
Rèn tâm luyện chí, thơm danh sĩ hiền
Nhờ ơn nghịch cảnh đảo điên
Cho ta vui khổ nhân duyên đủ đầy
Dòng đời đã nhẹ cơn say
Nụ cười an tĩnh, tháng ngày tươi nguyên
.
Tiểu Viên

07. Nối liền hai thế giới

.

...
.
Hoa văn: 兩個世界連在一起
我常常看到一些父母,孩子小的時候會帶他到寺院裡來,等到孩子大了以後,就再也不帶他們來了。
.
我問他們怎麼不帶孩子來呢?
.
他們回說:「他們有他們的世界,所以不來了。」
.
我聽候就說:「這表示你們親子溝通有問題了!」
這一種 「他們有他們的世界」的態度是有問題的。當然,兒童有兒童的世界,少年有少年的世界,但是「他們的世界」和「我們的世界」應該不是對立的。
.
如果父母對孩子的關懷付出得夠多,一定會生活在孩子的世界裡;如果孩子懂得體諒父母,也一定會常常到父母的世界裡來。這樣一來,兩個世界不就連在一起了?
聖嚴法師
Việt dịch: Nối liền hai thế giới
.
Tôi thường thấy một số bậc cha mẹ, lúc con còn nhỏ thì thường hay bồng hay dắt con về chùa; đến khi con lớn lên thì không bao giờ thấy dẫn dắt chúng nữa.
Tôi hỏi những vị ấy sao vậy?
.
Những vị ấy trả lời: ‘Chúng nó có thế giới riêng của chúng nó nên chúng không đi nữa’.
.
Tôi nói: ‘Như vậy có nghĩa là mối cảm thông giữa những người thân trong gia đình đã không còn suông sẽ rồi’
.
Nghĩ rằng: ‘Chúng nó có thế giới riêng của chúng nó’ là cách suy nghĩ không tốt. Thiếu nhi dĩ nhiên là có thế giới của thiếu nhi; thiếu niên dĩ nhiên là có thế giới của thiếu niên. Dù vậy “những thế giới của chúng nó”và “thế giới của chúng ta” đúng ra không phải là những thế giới đối lập với nhau.
.
Nếu như cha mẹ trải lòng ra, quan tâm đầy đủ thì chắc chắn sẽ cùng sống trong thế giới của con trẻ; nếu như con trẻ biết thông hiểu cha mẹ đúng mức thì chắc chắn sẽ thường trở về viếng thăm thế giới của cha mẹ. Như vậy há chẳng phải hai thế giới đã nối liền với nhau sao?
.
Phụ họa:
Lúc nhỏ cùng mẹ đến chùa
Trẻ già chung một tánh ưa cảnh thiền
Lớn lên hai thế giới riêng
Trẻ thế giới trẻ, ưu phiền tự lo
Lắm khi lời mẹ nhỏ to
Để ngoài tai, muốn tự do riêng mình
Người trí khéo hiểu sự tình
Bản thân tu dưỡng tâm linh vững vàng
Tinh thần thong thả nhẹ nhàng
Lại còn giúp đỡ, thiên đàng của con
Tình thương như thế vẹn toàn
Khiến hai thế giới giữ tròn tương giao
Ngoài tình mẫu tử với nhau
Thêm tình bạn đạo tươi màu sắc không
Niềm vui càng lớn trong lòng
Nụ cười chuyển hóa, khai thông nhiệm mầu.
.
Tiểu Viên

06. Dựng cây và dựng nghiệp

.
.

.
Hoa văn: 扶樹與扶人
.
某人做生意失敗了,但是他仍然極力維持原有的排場,唯恐別人看他的失意;宴會時他祖用私家車去接賓客,並清表妹份做女佣,佳餚一道道地端上他以嚴厲的眼光制止自己久已不知肉味的孩子槍菜;雖然前一瓶酒尚未喝完,他已砰然打開櫃中最後一瓶X.O.。但是當那些心裡有數的客人酒足飯飽,告辭離去時,每一個人都熱烈地致謝,並露出同情的眼光,卻沒有一個人主動地提出幫助。
.
某人徹底失望了,他百思不解,一個人行接頭,突然看見許多工人在扶正那被台風吹倒的行道樹,工人總是先把樹的枝葉鋸去。使得重量減輕,在將樹推正。
.
某人頓然領悟了,他放棄舊有的排場和死要面子的毛病,重新自小本生意做起,並以低姿態去拜望以前商界的老友,而每個人知道他的小生意時,都儘量給予方便,購買他的東西,並推介給其它的公司。沒有幾年,他又在商場上站立了起來,而他始終記得鋸樹工人的一句話﹕“倒了的樹,如果想維持原有的枝葉,怎麼可能扶得動?”(劉墉)
.
Việt dịch: Dựng cây và dựng lại sự nghiệp
.
Có một người nọ làm ăn bị thất bại nặng nhưng vẫn cố giấu vì sợ người ta phát hiện ra mình đang suy sụp. Khi bày tiệc đãi đằng anh ta thuê xe con đi đón khách và còn nhờ chị em họ hàng giả làm người giúp việc. Món ngon được dọn lên bàn thì anh ta phải dùng ánh mắt nghiêm khắc khống chế những đứa con trong nhà không cho chúng gắp mạnh tay, dù đã lâu ngày chúng không được hưởng được mùi thịt cá. Trước khi tiệc tàn anh còn tự tay mở chai rượi cùng. Những người bạn thân thiết rượu thịt no say lúc từ biệt ra về đều có lời cám ơn nồng nhiệt, ánh mắt cảm thông nhưng lại không có người nào ngỏ lời giúp đỡ.
.
Anh vô cùng thất vọng, ngổn ngang bế tắc, một mình lang thang ngoài phố; bất chợt anh thấy một tốp nhân công đang xúm dựng lại hàng cây bên đường mà đêm qua đã bị gió mạnh làm ngã xuống. Trước hết là cưa xén bớt cành lá để cho thân cây được nhẹ đi, sau đó mới dựng đứng nó dậy.
.
Tâm tư bổng loé sáng, anh liền bỏ cái tật hay phô trương và cái sĩ diện hão, khai trương một doanh nghiệp nhỏ, chịu khó đi đến những người bạn trong giới làm ăn trước kia. Khi biết được tình cảnh như vậy, họ đều tự mình ra sức giúp đỡ mua bán với anh, lại còn giới thiệu thêm những mối lái khác. Không đầy mấy năm sau, anh đã đứng vững trở lại trên thương trường. Trước sau anh vẫn nhớ mãi câu nói của người công nhân lúc đang cưa cành cây: ‘Cây đã ngã rồi mà cứ muốn giữ nguyên cành lá thì làm sao dựng lại được.’
.
Phụ họa:
.
Một thời người nọ kinh doanh
Cơ ngơi đồ sộ tung hoành dọc ngang
Lỗ to, vốn liếng lụn tàn
Lại lo sĩ diện không kham tỏ bày
Một mình khốn khổ đắng cay
Lang thang bổng gặp cội cây bên đường
Gió to bật gốc thảm thương
Người thì dọn đất, người đương chặt cành
Để rồi trồng lại cho nhanh
Mai kia lại có màu xanh cho đời
Thình lình sáng ý ngẩn người
Trở về mở một cơ ngơi vừa chừng
Bán buôn nho nhỏ bậc trung
Bạn bè lại giúp phục hưng to dần
Rõ ràng tình cảm tương thân
Rõ ràng vận mệnh trong lòng bàn tay
Cuộc đời bỉ cực thới lai
Niềm vui như thế lâu dài niềm vui.
Tiểu Viên

Monday, May 21, 2007

05. Dạy bé khi còn trong thai

.
...
Hán văn: 胎教怎麼教?
.
母親在懷孕時,對胎兒的教育稱為「胎教」。胎教應該怎麼教?是用語言教呢?還是用文字教呢?
.
其實,母親在剛懷孕時應該要先教育自己,不要常常動情緒、起煩惱。因為如果母親的心態有問題,情緒不平穩,胎兒在母胎中,便會受到負面的影響。所以,母親教育自己,就等於是幫助胎兒在學習。
.
胎兒的學習是根據母親的心情而成長,如果母親在懷孕時,就能多聽聽音樂、聽聽佛法,多發發慈悲心,並且讓自己的頭腦保持冷清楚,那麼胎兒出生後,就會像母親懷他時,那樣的性情和順。(釋聖嚴)

Việt dịch: Thai giáo là gì?
.
Khi hoài thai, người mẹ muốn dạy dỗ đứa con đang mang trong lòng mình thì gọi là "Thai giáo". Thai giáo nên thực hiện như thế nào? Phải chăng là dùng lời nói để dạy? Hay là dùng chữ nghĩa để dạy?
.
Thật ra, lúc vừa cấn thai, trước hết người mẹ nên tự dạy bản thân, không được hở một chút là xúc động hay khởi tâm phiền muộn. Vì rằng nếu như trạng thái tinh thần của người mẹ có vấn đề, tâm trạng của người mẹ không được bình ổn thì thai nhi đang mang trong lòng mình phải chịu những ảnh hưởng xấu.
.
Cho nên việc người mẹ tự dạy bản thân đồng nghĩa với việc giúp cho thai nhi học tập. Trạng thái tình cảm của người mẹ là cơ sở để việc học tập của thai nhi được thành tựu. Nếu như lúc mang thai, người mẹ nghe âm nhạc nhiều, nghe thuyết giảng Phật Pháp nhiều, thường phát lòng từ ái; lại còn giữ cho thần trí tĩnh mĩnh, thông sáng thì khi được sinh ra đứa bé sẽ có tư chất giống với người mẹ lúc hoài thai; tánh tình thuận thảo.
.
Phụ họa:

.
Từ khi bé ở trong thai,
Nhân thân phát triển mỗi ngày một tăng.
Người mẹ đi đứng, nói năng,
Chớ nên hấp tấp, lăng xăng, rộn ràng.
Trong thai con trẻ mới an;
Lớn lên tưt đàng hoàng, thanh cao.
Người mẹ đừng có xôn xao;
Hả hê cười lớn, kêu gào khóc thương.
Cảm xúc đừng cho thất thường,
Khi vui, lúc giận, trăm đường nghĩ suy.
Bào thai ảnh hưởng tức thì,
Lớn hay hờn giận, sân si thình lình.
Người mẹ nên thường nghe kinh;
Để lòng thanh thản, tánh tình ôn nhu;
Siêng làm những việc nhân từ;
Đứng ngồi thong thả, khoan thư, nhẹ nhàng.
Nói lời chính chắn, đoan trang;
Thường nghe loại nhạc dịu dàng, êm tai.
Nguyên lý giáo dưỡng bào thai,
Cơ bản là tự dạy ngay chính mình.
Sau này con lớn quang minh;
Nhớ ơn cha mẹ thâm tình dưỡng nuôi.
Gia đình đầm ấm nụ cười,
Sống đời phúc lạc, niềm vui vững bền.
Tiểu Viên.

04. Làm tốt nhất cho cái tệ nhất


.
Hán văn: 最好的準備最壞打算
.
現在很多人對未來惶惑不安,我 認為,把握當下很重要,再怎麼擔憂未來也沒有用,最重要是腳踏實地。
.
把握當下最重要的前提,應該是肯定、接受事實。
什麼是事實?無常、變化就是事實。
.
不只環境的變化是無常的,就連我們自身也是無常的,例如健康。如果能面對、接受無常,就能夠對內外的變化有所準備。
.
因此我常說,面對生活要有「最好的準備,最壞的打算」。無常是生命的變數,無法加以控制,只有做好心理準備,才能在心理上有較好的適應,能夠承受任何打擊。(釋聖嚴)

Việt dịch: Chuẩn bị tốt nhất cho trường hợp tệ nhất
.
Ngày nay nhiều người đối với tương lai cảm thấy lo lắng không yên tâm. Tôi (Thích Thánh Nghiêm) cho rằng nắm lấy thực tại hiện tiền là điều rất quan trọng; có lo lắng cho tương lai cách mấy cũng chẳng ích gì. Điều quan trọng nhất là (bây giờ) làm việc một cách chân thành với tinh thần phục vụ.
.
Để nắm được thực tại thì điều trước tiên và quan trọng nhất là xác định sự thật là gì và chấp nhận nó. Sự thật là gì? Sự thật chính là tính chất vô thường và sự biến hóa.
.
Không phải chỉ có hoàn cảnh bên ngoài biến hóa mới là vô thường, ngay cả trong bản thân chúng ta, cụ thể như là sức khoẻ của chúng ta cũng có tính chất vô thường. Nếu như chúng ta có thể đối mặt với vô thường, tiếp nhận vô thường, thì đối với những chuyển biến bên trong thân hay bên ngoài thân, chúng ta đều có sự chuẩn bị đầy đủ.
.
Do vậy mà tôi (Thích Thánh Nghiêm) thường nói rằng đi mặt với cuộc đời cần phải "Chuẩn bị tốt nhất cho trường hợp tệ nhất". Vô thường là biến số của sinh mạng, không có cách gì chế phục được; chỉ có cách là chuẩn bị tinh thần đầy đủ để có tâm trạng phù hợp hơn, chịu được bất cứ sự công kích nào.
.
Phụ họa:
.
Nhiều người thời đại ngày nay,
Lo âu, xao xuyến tương lai của mình.
Nơi nào cũng thiếu an ninh.
Băng khoăng thế mấy, sự tình thế thôi.
Chi bằng thực tại đây rồi;
Tự mình chấp nhận: khắp nơi vô thường,
Trong ngoài chuyển biến luôn luôn;
Như dòng nước cứ chảy tuôn qua cầu.
Người có trí biết làm sao;
Chuyện tồi tệ nhất, cách nào khả thi.
Tinh thần chuẩn bị tinh vi;
Sẳn sàng bất cứ việc gì xảy ra.
Tâm định tĩnh, thân điều hòa;
Vững vàng cuộc sống, thăng hoa lòng thành.
Bầu trời như thể thiên thanh,
Nụ cười như thể trong lành niềm vui.
Tiểu Viên

03. Bệnh là một thể nghiệm

.




Hán văn: 體驗一下生病滋味
生病要以平常心來看待,病既然來了,那就按受吧!
該看醫生的看醫生、該吃藥的就吃藥,該修養的就修養,該怎麼樣就怎麼樣。
.
心裡要鎮靜,不要一生病就覺得自己完了。生病是正常的,是人生重要的體驗過程。有病,你才能感覺到身體的不自在,知道這個身體是不可靠的。
.
生病的時候,如果對病多一些關照力,就不會覺得生病很可怕。
病過一場以後,你就又多了一些人生的歷練,對於生老病死的過程更清楚了,這也一種生命教育。
.
如果心裡不把生病當成是可怕、討厭的事,生病其實並不是那麼難過無奈的事。(釋聖嚴)

Việt dịch: Bệnh là một thể nghiệm
.
Khi bị bệnh hãy để lòng bình thản mà xử lý. Đã mắc bệnh rồi thì chấp nhận thôi!
Nên đi khám bệnh thì đi khám bệnh, nên uống thuốc thì uống thuốc, nên nghỉ ngơi điều dưỡng thì nghỉ ngơi điều dưỡng. Nên như thế nào thì cứ như thế nấy.
.
Hãy giữ tâm lý ổn định, đừng nghĩ rằng một khi mắc bệnh là tiêu tan cuộc đời. Mắc bệnh là chuyện bình thường, là một thể nghiệm quan trọng của kiếp sống con người. Có bệnh bạn mới có thể cảm nhận được bản chất hệ luỵ của thân thể, biết được rằng cái cơ thể này chắc chắn không phải là chổ dựa của mình.
.
Nếu như lúc ấy đối với bệnh mà ra công quán chiếu nhiều hơn thì bạn sẽ cảm thấy rằng mắc bệnh không phải là chuyện đáng sợ quá đỗi.
.
Trãi nghiệm một cơn bệnh có nghĩa là trãi qua một cuộc tôi luyện về nhân sinh, giúp bạn hiễu rõ hơn về tiến trình sinh lão bệnh tử. Đó cũng là giáo dục nhân sinh vậy.
.
Nếu như trong lòng không xem bệnh là chuyện khiếp sợ, ghê tởm thì thật ra bệnh không phải là chuyện khổ não và vô nghĩa.

Phụ họa:
.
Đã sinh ra kiếp làm người,
Bệnh đau là chuyện phải thôi, lạ gì!
Cần đi chẩn trị cứ đi;
Cần phải uống thuốc, tức thì uống ngay.
Cần phải tịnh dưỡng mấy ngày,
Cứ lo tịnh dưỡng đủ đầy chẳng nao;
Đừng thất vọng, chớ buồn đau;
Bình tâm quán chiếu: thân nào của ta;
Sáng soi: sanh - lão - bịnh - già;
Tâm càng thuần thục nhận ra vô thường.
Quay về chơn tánh cội nguồn,
Là nơi vững chắc thanh lương vô cùng.
Nhà xưa vô thủy, vô chung.
Lối về rộng mở, đón mừng khách xưa.
Tiểu Viên

Sunday, May 20, 2007

02. Cảm ơn cuộc đời

.
....

Hoa văn: 感恩成長的因緣

現在人在工作中,不管老少,每天都可能接受很多挑戰. 當有新的狀況出現時,不要把它成壓力,應該將它視為一個學習的機會,同時也是成長的因緣,每天準備迎接學習的機會.
我們不要說是接受挑戰或者是應戰,因為挑戰也好, 應戰也好,心理上都會戰戰競競,會害怕, 恐懼面對輸贏.
.
但是,我們不妨用另一種模式來思考,那就是我們每天是來學習成長的,任何狀況都是讓我們學習的機會,我們應該感恩每個讓我們成長的因緣.如果能這樣想的話,就不會壓力沉重,每天都能過得很新鮮, 很活潑, 很充實.(釋聖嚴)

Việt dịch: Cảm ơn cuộc đời.
.
Dù ở độ tuổi nào, con người hiện đại mỗi ngày đi làm việc đều có thể gặp nhiều thử thách. Khi có tình huống phát sinh thì chúng ta không nên xem đó là áp lực, mà nên xem đó là cơ hội để học hỏi, là nhân tố để trưởng thành. Mỗi ngày chúng ta đều chuẩn bị tiếp đón những cơ hội như vậy.
Chúng ta không cần phải có những ý nghĩ như: ta chấp nhận thử thách, ta sẳn sàng ứng chiến, thử thách cũng tốt mà ứng chiến cũng tốt. Nghĩ theo chiều hướng như vậy, tâm lý chúng ta sẽ có trạng thái căng thẳng, e sợ, lo âu, trước sự thành bại.
.
Ngược lại, chúng ta có thể suy tư theo chiều hướng khác, xem tình huống đó chính là cái giúp cho chúng ta học tập, giúp cho chúng ta mỗi ngày mỗi trưởng thành hơn. Dù tình huống xảy ra có như thế nào đi nữa cũng là cơ hội dành cho chúng ta. Chúng ta nên có lòng cảm ơn đối với mỗi nhân tố giúp chúng ta hoàn thiện bản thân. Được như vậy thì áp lực trong cuộc sống sẽ không trở nên nặng nề, mỗi ngày đều có thể sống một cách phong phú, sinh động và tươi mới.
.
Phụ họa:
.
Con người thời đại hôm nay,
Mưu sinh thường gặp mưu này chước kia;
Giựt giành, lấn hiếp, phân chia;
Tranh hơn, sợ kém, sớm khuya cực lòng.
Áp lực ngày mỗi chất chồng.
Làm sao giải tỏa, khai thông nỗi đời?
Người trí quán sát chiếu soi:
Xem như cuộc thế là nơi học hành;
Chuyện đời, thiện - ác, dữ - lành
Đều là cơ hội trưởng thành cho ta.
Mỗi sáng mở cửa lòng ra,
Đón chào chuyện mới để mà học thêm.
Cảm ơn: trời đất nhân duyên;
Cảm ơn: hạnh phúc - não phiền, buồn - vui;
Cảm ơn một kiếp làm người,
Cho ta học một nụ cười khai thông.
Tiểu Viên

01. Sống Trong Phước Báo

.
....

Hoa văn: 富貴中人
.

當我們在規畫經濟生涯之時,一定要確立原則:量入為出,開源節流;后以待人,儉以律己;要克勤克儉,積蓄財富;將自己擁有的經濟資源,用在國家社會乃至全體人類的福利事業.這才是真正懂得運用財富的富貴中人.
.

同時我提出一個觀念:"坐著享福的人,那是無富之人;培福,種福的人才是有福之人."
要建立起惜福, 培福, 種福的觀念, 先要珍惜現在所擁有的一切,包括自己的生活環境和生活條件,再以自己的技能, 知識, 體能, 智慧, 人品,為社會謀福利,這就是惜福, 培福.
種福的意思則是對現在還沒有做的好事,要加強努力.(釋聖嚴)
.

Việt dịch: Người sống trong phước báu
.

Khi hoạch định đời sống kinh tế của mình thì chúng ta cần phải lập ra nguyên tắc như sau: Tùy theo khả năng thu nhập cao hay thấp mà chi xài ra nhiều hay ít. Một mặt kiếm thêm nguồn thu vào, một mặt dè dặt việc chi ra. Đối với người thì rộng rãi, đối với bản thân thì tiết kiệm. Nên chặt chẻ việc chi xài để có tiền của; rồi đem phần tiền đó dùng vào những công việc có ích lợi cho xã hội, cho quốc gia hay nhân loại. Như vậy mới đúng là người có phước biết chơn chánh sử dụng tiền của.
.

Đồng thời tôi (Thánh Nghiêm) cũng có quan niệm rằng: "Ngồi không mà hưởng phước, đó chính là người vô phước. Vun bồi cội phước sẳn có, trồng thêm cội phước chưa có, như vậy mới đúng thật là người có phước."
.

Muốn rèn luyện được tính hay tiếc phước (ưa thích, xem trọng và không hoang phí phước báu), vun bồi cội phước và gieo trồng thêm phước, trước hết phải biết trân quý tất cả những cái mà mình đang có, tiện nghi sinh hoạt của bản thân cũng như hoàn cảnh chung quanh; sau đó vận dụng khả năng chuyên môn, sự hiểu biết, thể lực, trí tuệ và nhân phẩm của mình để mưu cầu lợi lạc cho xã hội; như vậy chính là tiếc trọng phước báu và vun bồi phước báu.
.

Trồng thêm cội phước có nghĩa là cố gắng và nổ lực hơn nữa để làm những việc tốt mà lâu nay bản thân vẫn chưa làm được.

Phụ họa:

Nhiều người cứ ngỡ phước là
Tiền tài, thế lực, cửa nhà khang trang;
Ngày ngày hưởng thụ huy hoàng;
Cho rằng thực tế thiên đàng là đây.
Đó là: "Vô phước lắm thay;
Khổ đau chờ chực, đọa đày bao vây".
Chân phước gồm ba điều này:
Thứ nhất: tiếc phước, không hay đua đòi;
Thứ hai: tưới tẩm vun bồi,
Cho cây phước lớn, xinh tươi cội tàng;
Thứ ba: phát triển mở mang,
Trồng thêm cây phước thênh thang cõi lòng.
Tiếc phước, dưỡng phước, gieo trồng;
Niềm vui muôn thuở thong dong kiếp người
Là chân hạnh phước ai ơi.
Nụ cười phước lạc muôn đời bình an.
Tiểu Viên