Sunday, September 2, 2007

17. Qua ban ron!

.
HỒI GIỜ CHƯA TỪNG BẬN RỘN NHƯ VẦY!
.

.
Hoa văn: 從來沒這麼忙過
.
若因為工作忙碌,產生了壓力該如何呢?這時候應該先把事情擺一旁,放鬆頭腦及身體,休息一下,否則愈急,愈忙,壓力就愈重;如果碰到事情是沒辦法等,無法放下的,就應該試著改變想法.
.
例如說,忙得天翻地覆時,你可以逆向思考:「我從來沒有這麼忙過呢,這倒是一個全新的經驗,挺好玩的,忙得很有意思.」
.
僅僅是觀念的改變,有時就可以使心情煥然一新,用不同的角度來欣賞工作中的忙碌,壓力反而會轉為一種活力.(釋聖嚴)

Việt dịch: Hồi giờ chưa từng bận rộn như vầy
.
Nếu như vì công tác nhiều mà bị áp lực nặng nề thì phải làm thế nào? Lúc ấy trước tiên là nên gát mọi chuyện sang một bên, buông xả đầu óc và thân thể mà nghỉ ngơi một chút, nếu không thì sẽ xảy ra tình trạng càng gấp gáp thì càng bận rộn, càng bận rộn thì áp lực càng nặng nề; nhược bằng gặp phải sự việc không thể gát lại được, không cách gì buông được, thì thử suy nghĩ theo hướng khác. Cụ thể như trường hợp bận rộn đến đỗi tối tăm trời đất, bạn hãy suy nghĩ theo hướng ngược lại: ‘Hồi giờ ta chưa từng bận rộn như vầy, đây đúng là một trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ, đúng là một cuộc chơi vui vẽ, bận rộn cũng có ý nghĩa lắm chứ.’
.
Chỉ cần thay đổi cách suy nghĩ thì đến lúc nào đó bạn có thể chợt sáng ý ra, vận dụng được những góc độ khác nhau để vui với sự bận rộn trong công ăn việc làm, áp lực sẽ trở thành một nguồn sinh lực cho cuộc sống. (Thích Thánh Nghiêm)
.
Phụ họa:
.
Một ngày công việc quá nhiều
Từ sáng đến tối đủ điều đảm đang
Lại thêm những việc cần làm
Áp lực như thế ngày càng gia tăng
Có hai cách để thăng bằng
Một, buông bỏ bớt đừng băng khoăng gì
Biết đâu ‘Chợ chẳng ít đi’
Cuộc đời vẫn thế thế thì có sao
Hai là nghĩ lại xem nào
Sống mà bận rộn thật giàu điều hay
Thú vị đậm nét như vầy
Cuộc sống đáng sống hăng say hết lòng
Đạo đời, đời đạo lưu thông
Mỗi giờ, mỗi phút, vui trong việc làm.
.
Tiểu Viên
.

Monday, August 13, 2007

16-Phien nao do ai?

.
PHIỀN NÃO DO AI GÂY RA?
.

.
Hoa văn: 誰惹誰生氣
有些人認為自己內心沒有問題, 卻又常常生氣, 常常難過.
我曾問過一個人:「你怎麼會有那麼多的煩惱?」
他說:「我自己沒有煩惱, 都是別人讓我煩惱.」
實際上, 是他自己有了問題,才引起人際的問題.
有次我坐在汽車上, 車上另有其他四個人在高聲談話. 其中一個問我:
「師父, 我們吵成這樣, 真對不起你.」我說:「你們吵你們的, 跟我沒什麼関係.」
其實, 他們吵鬧, 我全部聽到了. 不過, 內容既然是與我無關, 聲音便不太重要.
後來有一個人跟我講:「有些人怕吵, 只要聽到我們吵鬧聲音, 就厭煩生氣.」
看起來, 生氣這件事好像是從外來的一種煩惱, 其實, 是自己本身的問題. (釋聖嚴)
.
Việt dịch: Ai khiến ai tức giận
Có một số người nghĩ rằng nội tâm của mình không có vấn đề gì cả, thế mà thường hay bực bội, khổ sở.
Tôi có hỏi thăm một người: ‘Sao ông lại phiền não nhiều như vậy?’
Người ấy trả lời: ‘Bản thân tôi không có phiền não, tại người khác khiến tôi phải phiền não.’
Thật ra, bản thân ông ấy đã có vấn đề rồi mới khiến cho nhân gian này có vấn đề. Có lần tôi đi trên xe hơi, trên xe còn có 4 người khác ồn ào kháo chuyện. Trong đó, một người hỏi tôi: ‘Thưa thầy, bọn con ồn ào quá, thành thật xin lỗi thầy’. Tôi nói: ‘Quý vị làm ồn quý vị, không can dự gì đến thầy’. Thật ra, họ ồn ào, tôi đều nghe hết. Nhưng, lời họ nói đều không có gì liên quan đến tôi, âm thanh thì không quan trọng gì lắm.
Sau đó, có một người nói với tôi: ‘Có một số người sợ ồn ào, chỉ cần nghe âm thanh chúng tôi kháo chuyện liền cảm thấy bực bội phiền não.’ Tức giận dường như là một dạng phiền não từ ngoài xâm nhập vào; thực ra, đó lại là vấn đề của bản thân. (Thích Thánh Nghiêm)
.
Phụ họa:
Trên xe gồm có sáu người
Ồn ào kháo chuyện, nói cười oang oang
Một người ý tứ thưa rằng.
- “Tụi con ồn quá tiếng vang phiền thầy”
- “Tôi đâu có bị quấy rầy
Các vị vui vẽ như vầy chẳng sao
Tôi chẳng liên can chút nào
Âm thanh thì chỉ rạt rào âm thanh.”
Có người phiền não thật nhanh
Tưởng rằng mình đã thật thanh tịnh rồi
Phiền não từ ngoài vào thôi
Đem lòng tức giận những người nhiễu nhương
Thật ra mình tự dẫn đường
Ma phiền não nhập làm thương tổn mình
Biết rồi trí tuệ phát sinh
Tâm bình thì cảnh cũng bình xưa nay.
.
Tiểu Viên
.

Sunday, August 5, 2007

15-Vo chong la...

.
Phải chăng vợ chồng là oan gia?
.

.
Hoa văn: 夫妻是冤家嗎?
.
「夫妻是冤家」不是佛教的觀念.
.
在中國章回小說,民間戲劇中,都有「你是我的冤家」這樣的稱呼.甚至有一些民間故事說,夫妻有三世,四世,七世…….不繼在做夫妻.由於你欠我,我欠你,欠來欠去就變成夫妻,做了夫妻後,愛就愛得半死,因為彼此恩;怨又怨得要死,因為彼此有冤.恩和怨,愛和恨就糾纏不清.
.
這種觀念並不正確,因為他們把愛變成佔有.
.
當兩個人的愛相等時,不會有什麼問題;當有一方愛得沒那麼熱,佔有的心沒那麼強,而另一方佔有的非常強,兩個人就會產生摩擦.摩擦之後,愛就變成恨,因恨而猜疑,嫉妒,然後互相地怨怨來去,結果變成怨偶.(釋盛嚴)
.
Việt dịch:
.
‘Vợ chồng là oan gia’ không phải là quan niệm của Phật giáo. Trong tiểu thuyết chương hồi cũng như hý kịch dân gian Trung Quốc có câu thoại ‘ngươi là oan gia của ta’, xưng hô với nhau như vậy. Thậm chí có một số chuyện dân gian nói rằng có vợ chồng hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, bảy kiếp... liên tục làm vợ chồng với nhau. Vì ngươi nợ ta, ta nợ ngươi, nợ qua nợ lại mà trở thành chồng vợ. Thành chồng thành vợ rồi thì thương nhau rất mực vì có ân tình với nhau; mà hận nhau cũng lắm vì có nợ nần với nhau. Ân với oán, thương với hận tiếp diễn không nguôi.
.
Nghĩ không đúng như vậy vì họ đã làm cho yêu thương biến thành chiếm hữu: Khi hai người thương yêu như nhau thì không có vấn đề gì. Trái lại, một người có lòng thương yêu không quá đắm đuối, tâm chiếm hữu không quá bạo liệt, nhưng người kia thì tâm chiếm hữu mạnh quá đỗi, thế là hai người sây sát với nhau. Đã xây xát rồi thì yêu thương biến thành giận hờn, nhân giận hờn mà sanh hoài nghi, ghen tỵ; hai bên cứ oán qua oán lại, kết cuộc trở thành một cặp oan gia.
.
Phụ họa:
.
Vợ chồng là kẻ ‘oan gia’
Quan niệm tiêu cực mà ra nặng lòng
Tưởng rằng khổ nạn xoay vòng
Nợ chưa trả hết chất chồng tơ duyên
Nên thành ‘trái chủ’triền miên
Trải qua nhiều kiếp nối liền kết đôi
Như vậy là không đúng rồi
Cần có quan niệm ở đời với nhau
Nếu là tình nghĩa thanh cao
Và tâm chiếm hữu trước sau vừa chừng
Thì nương nhau sống tương thân
Giúp nhau tu tiến tinh thần thảnh thơi
Đó là hạnh phúc giữa đời
Cõi lòng an ổn, nụ cười dài lâu.
.

Friday, June 15, 2007

14-...không hề gì

Có khuyết điểm, không hề gì

.
Hoa văn: 有缺點沒有關係
.
自信心的建立也包括了解自己的缺點。例如說,我今天喉嚨有點沙啞,那就該調整說話的聲音何速度,說話小聲,或放慢一點。知道自己的缺點,只要留心注意,一樣能完成任務。
.

所以,有缺點沒關係,但是要清楚知道。知道的缺點愈多,成長愈快,自己的信心,反而愈堅定...
「自知之明」就是清楚知道自己的能耐有多少。如實的了解自我,就能適時調整,充分發揮潛能,避免過多的擔憂,因此也就有了自信心。(釋聖嚴著)
.
Việt dịch: Việc xây dựng lòng tự tin thì phải bao gồm trong đó cả việc biết rõ những điểm kém khuyết của bản thân mình. Cụ thể như, hôm nay tôi bị khản cổ nên khi nói tôi phải điều chỉnh âm thanh và tốc độ nói cho phù hợp: nói chậm một chút, nói nhỏ một chút. Biết được khuyết điểm của mình rồi thì chỉ cần tự tỉnh giác là có thể hoàn thành các công việc một cách bình thường.
.
Vì vậy, có điểm kém khuyết cũng không hề gì nhưng điều trọng yếu là bạn phải nhận ra cho được điểm đó một cách rõ ràng. Nhận ra được càng nhiều khuyết điểm thì trưởng thành càng mau chóng, lòng tự tin của bạn càng trở nên vững chắc.
.
‘Tự tri chi minh’ (cái sáng suốt của tự biết mình) chính là biết rõ năng lực của mình nhiều ít thế nào. Nhận ra thực tế của bản thân để đúng thời điều chỉnh, phát huy tiềm năng, tránh được lo âu. Nhờ vậy mà lại có lòng tự tin.
.
Phụ họa:
.
Làm người khuyết điểm là thường
Có gì mà phải vấn vương buồn rầu
Quan trọng là chẳng lo âu
Biết mình còn kém chổ nào mới hay
Ưu điểm chính là chổ này
Tự thân tỉnh giác hàng ngày đừng quên
Lòng tự tin sẽ tăng lên
Vững vàng chí nguyện tiến lên nẽo lành
Biển trần vốn một màu xanh
Nụ cười vốn tự tâm thành tỏa ra

Tiểu Viên
.

Monday, June 11, 2007

13. Trong vòng danh lợi

Trong vòng danh lợi


.
Hán văn: 名利中人
.
某日與一位在商場十分得意的朋友在世界貿易大樓頂層晚餐,看著下面萬家燈火、車水馬龍,他感慨地說﹕“人生就像這車馬燈火,明明滅滅,飄游虛幻,何必爭名逐利呢?”
.
我沒有附和,卻問他﹕“你為什麼要選這個地方晚餐?”
.
“因為這是紐約最著名的餐館之一,東西好吃、視野遼闊、服務週到。”
“很貴吧?”我又問。
“當然!相當不偏宜。”
“當你說何必爭名逐利之時,豈知自己卻正在名利之中啊!”
.
Việt dịch: Trong vòng danh lợi
.
Ngày nọ, tôi đi ăn tối với một ông bạn thành công mỹ mãn trên thương trường. Ngồi trên tầng thượng của một trung tâm thương mại thế giới cao chọc trời nhìn xuống phía dưới, chúng tôi thấy đèn đuốc khắp nơi, xe cộ nối đuôi chen chúc. Ông bạn cảm khái nói: ‘Kiếp người giống như ánh đèn xa mã dưới kia, có rồi lại không, chớp rồi lại tắt, phiêu diêu hư huyễn, danh lợi để làm gì mà phải tranh đua.’
.
Tôi không tiếp lời mà lại hỏi: ‘Tại sao bạn lại chọn ăn tối ở chổ này?’
.
‘Vì đây là một trong những nhà hàng nổi tiếng nhất của New York, thức ăn ngon lành, cảnh quan thông thoáng, phục vụ chu đáo.’
‘Chắc là phải đắc?’ Tôi lại hỏi.
‘Đương nhiên là không rẽi.’
‘Lúc nói danh lợi để làm gì mà phải tranh đua, bạn có biết chăng chúng ta cũng đang ở trong vòng danh lợi!’
.
Phụ họa: Bạn cùng ăn tối với nhau
.
Nhà hàng tầng thượng, lầu cao chọc trời
Cực kỳ sang trọng chao ôi!
Ngồi đy mọi thứ, tuyệt vời trần gian
Đỉnh cao nhìn xuống ngút ngàn
Dưới kia chen chúc tuôn tràn người ta
Tất tả, xuôi ngược, vào ra
Tâm tư cảm khái: mình là thong dong:
‘Cuộc đời mộng huyễn có không
Sao họ chen chúc trong vòng lợi danh’
...
Trầm ngâm tôi hỏi lại anh:
‘Có gì đặc biệt ngon lành nơi đây?’
Anh rằng: ‘Ngoài món lẩu này
Nổi tiếng là món vịt quay kiểu Tàu.’
Tôi hỏi: ‘Giá cả ra sao?’
‘Nổi danh nên giá cũng cao quá chừng’
...
Phải chăng ta cũng chưa từng
Đứng ngoài danh lợi, tạm dừng phút giây.
.
Tiểu Viên
.

12. Giúp một tay

Giúp một tay



Hán văn: 扶一把
.
某人坐計程車,路上看見因為超速而自己翻覆的摩托車。騎士面孔朝下地躺在路邊,汩汩的鮮血自額角沁出,居然沒有一個經過的人去救他。
.
‘最起碼應該把他扶坐起來,頭朝上,以滅低腦裡的血壓,否則活不了多久。’司機說。
某人一路上不斷想司機的話,下車時忍不住地問﹕
.
‘你既然知道把他扶坐起來,可以救他一命,為什麼剛才不停車去做呢?’
.
‘你既然聽到我這樣說,為什麼不叫我停車,自己下去扶呢?’
.
扶人一把並不困難,但是多數的人只會說,不去做;甚至還責怪別人不為。(劉墉)
Việt dịch: Giúp một tay
.
Một bác nọ đang đi tắc-xi thấy có người cỡi mô-tô chạy quá nhanh mà tự té nằm gục đầu bên đường. Máu tươi từ trên trán tuôn ra, thế mà chẳng có người đi đường nào đến cứu giúp.
.
‘Tệ nhất cũng phải có người đỡ ông ta ngồi dậy, nâng đầu thẳng lên, làm giảm ngay áp lực của máu trong não bộ, chậm một chút là phải chết.’ Chú lái tắc-xi nói.
.
Bác nọ suốt đoạn đường đi cứ băng khoăng với câu nói của người lái tắc-xi, lúc xuống xe nhịn không được buột miệng hỏi: ‘Chú hẳn nhiên đã biết rằng đỡ người ấy ngồi dậy là cứu sống một người, tại sao lúc ấy không dừng xe lại cứu mạng cho người ta?’
.
‘Còn bác hẳn nhiên đã nghe tôi nói như thế, tại sao không kêu tôi dừng xe lại, rồi bước xuống xe giúp cho người một tay?’
.
Đưa tay ra giúp người không phải là chuyện khó, nhưng con người phần đông chỉ biết nói mà không làm; thậm chí còn trách móc người khác sao không chịu làm.
.
Phụ họa:
.
Bên đường tai nạn xảy ra
Người nằm bất tỉnh thật là hiểm nguy
Trên xe, người lái tắc-xi
Thấy rồi bàn bạc rằng khi thế này
Muốn cứu thì phải nhanh tay
Nâng đầu người ấy thông ngay máu dồn
Tình trạng sống chết chập chờn
Chậm đi vài phút chỉ còn tử vong
Người khách ấm ức trong lòng:
- ‘Biết nói mà chẳng ra công cứu người.’
Tài xế gay gắt trả lời:
- ‘Còn ông cũng thế... thế thôi khác gì.’
Phần đông kể cũng lạ kỳ
Chỉ lo bàn cải không đi giúp đời
Thấy người bị nạn ai ơi
Ra tay cứu giúp đúng thời mới hay
Đức lành càng được sâu dày
Nhân lành gieo tạo, ngày mai quả lành.
.
Tiểu Viên
.

11. Chao đèn

Chao đèn
.

.
Hán ngữ: 燈罩
.
大概在人們使用燈不久,就發明了燈罩。早期的燈罩是為了保護其中的火苗,所以提著的燈籠有罩、拿著的電石燈有罩、固定的煤氣燈有罩,連煤油燈也常加個罩子。
.
後來電燈被發明了,按說外面已經有層玻璃,應該不必再多加一層罩子才對。但是那燈罩的式樣反而更多了。
.
為了小範圍的強調照明,燈後被加上圓形反光的罩子,或在前面裝設凸透鏡,成為了聚光燈。為了給人燦爛輝煌的華麗感,燈有四周被綴上顆粒或條狀的水晶,使那光線在三折射,成為裝飾燈。為了使光線全部經過折射,予人一種柔和感,發明了不透明的筒狀燈罩,使光線只照射地面和天花板。為了即可在燈下閱讀,又能由透過燈罩的光線,提供室內照明,發明了傘形半透明的光照,使燈下明亮,而四周柔和。至于學生們書桌上傳供讀書的燈,則有槽形或碗形不透明的燈罩,因為它提供了定點的照明,除了燈下,其它處都不照,所以有幫助集中注意力的效果。
每個人都是一盞燈,為了保護自己,為了不刺傷別人,為了集中光芒,也為了製造韻味,請別忘了加上一層燈罩,它雖然可能滅弱你的廣度,卻足以增添你的光采。(劉墉)
.
.
.
Việt dịch: Chao đèn
.
Tổng quát mà nói người ta biết dùng đèn chưa bao lâu thì sáng chế ra cái chao đèn. Lúc đầu cái chao đèn là để bảo vệ ngọn lửa bên trong vì vậy mà cái đèn bão có chao, đèn cầm tay có chao, đèn khí đá để nơi cố định có chao, cho đến đèn dầu hỏa cũng thường có cái chao.
.
Sau này người ta lại phát minh ra đèn điện; bạn xem, bên ngoài ánh điện đã là một bóng bằng thuỷ tinh bảo vệ, lẽ ra không cần phải bảo vệ thêm bằng một lớp chao đèn mới phải, đàng này chao của đèn điện lại càng nhiều hơn, nhiều loại nhiều dạng hơn nữa.
.
Để chiếu sáng trong một phạm vi nhỏ thôi, người ta gắn thêm một cái chao phản quang hình tròn phía sau, hay lấp thêm một thấu kính lồi phía trước, thế là thành đèn tụ sáng. Để tạo cảm giác lung linh tráng lệ, quanh đèn người ta đan kết những lớp thủy tinh hình hạt hay hình khối dài, khiến cho ánh sáng chiếu ra bị khúc xạ giao thoa; thế là thành đèn trang hoàng. Đ làm cho ánh sáng bị chiết xạ hoàn toàn, tạo cảm giác êm dịu, người ta đã sáng tạo ra chao đèn ngăn sáng hình ống; thế là chỉ có nền và trần nhà là có ánh sáng đèn chiếu đến mà thôi.
.
Để làm đèn đọc sách và làm sáng trong phòng, người ta phát minh ra chao đèn mờ hình nón, khiến cho ngay trước đèn thì ánh sáng chiếu rõ, không gian chung quanh thì ánh sáng êm dịu. Còn đèn trên bàn học thì có chao cản quang hình máng hay hình chén để soi sáng một khoảng cố định mà thôi; như thế ánh sáng chỉ có trước đèn, mọi nơi khác đều không chiếu tới, nhờ đó giúp cho người ta tăng thêm sức tập trung.
.
Mỗi người đều là một ngọn đèn; để bảo bệ bản thân, để đừng làm tổn thương người khác, để tập trung ánh sáng, và cũng để tạo nên phong vị, xin đừng quên trang bị thêm một cái chao đèn. Cái chao đèn này có thể làm giảm đi sức tỏa sáng của bạn, nhưng bù lại nó làm cho ánh sáng của bạn đẹp hơn.
.
Phụ họa:
.
Đèn dầu nếu chẳng có chao
Gió lay, lửa tắt làm sao thấy đường
Ngày nay điện khắp bốn phương
Đèn chẳng sợ gió, càng thường có chao!
Trăm nghìn hình dáng, sắc màu
Khách đường lễ hội xôn xao huy hoàng
Phòng riêng ấm áp dịu dàng
Phòng thờ ánh sáng nghiêm trang trải đều
Bàn học ánh sáng một chiều
Tập trung được tốt, thêm nhiều tinh chuyên
Đèn xe chiếu thẳng màn đêm
Tất cả đều phải nhờ đèn có chao
Tuy làm sức sáng tổn hao
Nhưng lại giúp ích xiết bao cho đời
Đèn lòng phải có chao thôi
Che đi để khỏi phiền người xung quanh
Bên trong hàm dưỡng tinh anh
Đủ đầy phong phú, an lành niềm vui.
Vừa chừng, phải chuyện, đúng thời
Tỏa ra chút sáng, soi nơi mù mờ
Những khi thong thả làm thơ
Tỏa ra chút sáng cũng nhờ đèn tâm.
.
Tiểu Viên
.